Đặc điểm sinh học loài gián

1. VỊ TRÍ PHÂN LOẠI

Giới Động vật
Ngành Chân đốt
Lớp Côn trùng;
Phân lớp (subclass) Pterygota
Liên bộ Dictyoptera
Bộ Blattodea

2. THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ

2.1. Trên thế giới

Gián thuộc lớp côn trùng, trong số 4.600 loài có khoảng 30 loài sống trong môi trường gần người.

Gián phân bố khắp nơi trên thế giói, tuy nhiên thành phần loài gián khác nhau ở từng vùng địa lý, khí hậu, độ cao và sinh cảnh. Một số loài gián phân bố rộng như gián Đức, gián Mỹ, gián úc. Nhiều loài phân bố hẹp, chỉ ở phạm vị vùng, lãnh thổ hay quốc gia và sinh cảnh. Có loài chỉ phân bố hay sinh sống trong nhà, gần người, có loài sống trong rừng xa người.

2.2. Việt Nam

Ở Việt Nam việc nghiên cứu về gián còn ít, nhất là về khu hệ, vai trò dịch tễ của nó. Theo các tài liệu đã công bố, cho đến nay ở Việt Nam mới phát hiện khoảng 10 loài. Những loài gián thường gặp nhất ở VN là gián Mỹ (Periplaneta americana), gián Úc (Periplaneta australasiae), gián Đức (Blattella germanica), gián phương Đông (Blatta orientalis)

3. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

3.1. Đặc điểm hình thể

3.1.1. Trứng:

Gián cái đẻ các bọc trứng, còn gọi là túi bào tử. Một túi bào tử chứa rất nhiều trứng và được bao bọc bởi một chất protein mà sẽ từ từ cứng lại thành một lớp vỏ rắn chắc, kiên cố. Vài loài gián thả rơi các bọc trứng, trong khi số còn lại mang chúng theo cho đến khi trứng nở

3.1.2. Thiếu trùng:

Gián con hay thiếu trùng, thường không có cánh và kích thước chỉ dài vài mm,khi mới nở có màu trắng và đen dần sau vài giờ.

 

3.1.3. Gián trưởng thành:

Gián là loại côn trùng có cơ thể dẹt hướng lưng bụng, thông thường có đôi cánh ôm kín lưng. Kích thước cơ thể dài từ 2-3 mm đến 80 mm. Thân thể màu nâu sáng hoặc đen. Đa số các loài gián ít khi bay nhưng chúng bò rất nhanh.

Cơ thể gián nhà gồm ba phần: đầu, ngực và bụng.

Phần phụ miệng kiểu nghiền.

Trên ngực có 3 đôi chân, thuộc kiểu chân bò nên mảnh, dài, gồm 5 đốt: đốt háng, đốt chuyển, đốt đùi, đốt ống và đốt bàn.

Hai đôi cánh dài bằng nhau, có nhiều gân màu nâu thẫm đặc trưng, xếp chéo trên lưng con vật. Đôi cánh trước dày và sẫm màu hơn, phủ ở trên. Đôi cánh sau mỏng như lụa, ở phía dưới.

Cả gián đực lẫn gián cái phía trên hậu môn đều có một phần phụ đuôi phân đốt (cercus). Riêng gián đực còn có thêm một đôi gai giao phối không phân đốt (stylus).

3.2. Vòng đời phát triển

Gián phát triển qua 3 giai đoạn: Trứng – thiếu trùng – trưởng thành.

Gián cái đẻ trứng kết dính thành ổ có hình quả đậu gọi là ootheca. Một số loài, như gián Đức mang trứng phía sau lưng. Đa số các loài gián khác đẻ trứng sau một hoặc hai ngày. Ootheca rất đặc trưng cho từng loài, sử dụng để phân biệt các loài. Tùy loài, tùy điều kiện nhiệt độ và độ ẩm, trứng gián có thể nở sau 1 đến 3 tháng.

Gián con hay thiếu trùng lớn lên bằng cách lột xác. Gián con phát triển và trở thành gián trưởng thành sau vài tháng đến hơn một năm tùy thuộc vào từng loài.

Gián trường thành có thể cỏ hoặc không có cánh.

3.3. Tập tính

Gián có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, tuy nhiên ở vùng ôn đới chúng sống trong nhà, nơi ấm áp, ẩm thấp và có thức ăn thích hợp. Các loài gián nhà như gián Đức, gián Mỹ, rất thích sống và phát triển trong các tủ, thùng đựng quần áo cũ bằng gỗ hay bằng giấy carton; đặc biệt những dụng cụ đó đã cũ và không kín. Gián thường sống thành bầy đàn. Chúng thường hoạt động về đêm. Ban ngày ẩn náu ở chổ tối như hang, hốc, kẽ tường, kẽ cửa, hố ga, cống rãnh thoát nước v.v… Ban đêm ra hoạt động kiếm ăn. Có một số loài gián có thể di cư thành đàn do sự phát triển đông đúc. Chúng di cư đến địa điểm mới bằng cách bò hay bay. Gián có thể được đưa đi xa bằng các phương tiện như máy bay, tàu biển và các loại xe cộ khác.

Gián thuộc loại ăn tạp và phàm ăn, chúng ăn tất cả các loại thức ăn mà con người sử dụng. Nhưng chúng rất thích chất bột đường. Chúng nhấm sữa, bơ, bánh ngọt, bột đường và sôcôla ngọt v.v… ăn cả xác lột của chúng, gián chết, máu khô, máu tươi, phân; nhấm cả móng chân, móng tay trẻ em, người ngủ hoặc người ốm. Gián là động vật ăn chất thải rất mất vệ sinh ở các khu dân cư. Con gián nhà được coi là loài gây hại ở hầu hết các căn nhà của chúng ta vì chúng có tập tính bẩn thỉu và mùi hôi khó chịu. Ban đêm chúng tìm thức ăn trong bếp, trong chạn nơi thùng rác, cống rãnh thoát nước.

4. VAI TRÒ Y HỌC

Gián không phải là tác nhân gây bệnh nhưng Gián là vật gây hại quan trọng vì chúng nhiễm bẩn và huỷ hoại thức ăn, gặm nhấm vải vóc, giấy sách. Các chất tiết, mửa từ miệng gián và các tuyến trên cơ thể có mùi đọng lại rất lâu và rất khó chịu ở những nơi chúng đi qua.

Gián có thể lây lan nhiều loại bệnh. Tuy nhiên, không giống như muỗi, chúng không phải là véc tơ truyền bệnh trực tiếp mà chúng chỉ là vật chứa mầm bệnh và truyền bệnh bằng hình thức lan truyền cơ học. Sự lan truyền xảy ra gián tiếp, do con người tiếp xúc với vật dụng nơi gián sinh sống hay ăn đồ ăn mà gián đã tiếp xúc [9].

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) “Gián thường không phải là nguyên nhân gây bệnh quan trọng nhất, nhưng giống như ruồi nhà, chúng đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền một một số bệnh”. Gián được chứng minh hoặc nghi ngờ là vật mang các vi sinh vật gây bệnh sau đây [9]:

– Bệnh Salmonella

– Thương hàn

– Bệnh tả

– Viêm dạ dày

– Bệnh kiết lỵ

– Bệnh phong

– Bệnh dịch hạch

– Bệnh Campylobacteria

– Bệnh Listeria

– Bệnh Giardia

– Gián cũng có thể gây ra hen suyễn và các dị ứng khác cũng như lan truyền E.coli, tụ cầu vàng và liên cầu.

Nguồn: Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Thành phố Hồ Chí Minh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *